Trang chủ

Hoạt động chuyên môn

Nhiệm vụ và giải pháp để giải quyết “Bài toán” cũ
Ngày đăng 04/03/2019 | 07:24 | Lượt xem: 179

 
Trong năm học này, ngành giáo dục đã đặt ra 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 5 giải pháp cơ bản để giải quyết "bài toán" cũ.

Các nhiệm vụ được ngành đặt ra là rà soát và xây dựng mạng lưới trường lớp; Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và phân luồng học sinh; nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục; Hội nhập quốc tế; Tăng cường cơ sở vật chất; Phát triển nguồn nhân lực; Phân luồng và định hướng nghề nghiệp.

Áp lực đổi mới

Trong chín nhiệm vụ trọng tâm được ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong năm học này, quy hoạch mạng lưới trường, lớp học là nhiệm vụ đầu tiên. Theo đó, khu vực thành phố, quy hoạch trường, lớp phải thoát khỏi khu vực nội đô, khắc phục tình trạng sĩ số lớp quá đông. Tăng cường xã hội hóa với nhóm trường, lớp chất lượng cao.

Ở miền núi khó khăn, có lộ trình sắp xếp trường, lớp hợp lý, đảm bảo chuẩn bị tốt tâm lý cho phụ huynh và học sinh. Riêng với bậc học mầm non và các lớp tiểu học đầu cấp khi sát nhập, dồn dịch các trường học phải đảm bảo yếu tố nhân văn...

Cấp tiểu học, THCS phải làm có lộ trình, tránh theo phong trào. Công tác quy hoạch trường, lớp phải gắn với chuẩn bị cơ sở vật chất, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, đặc biệt là gắn với chương trình giáo dục phổ thông mới.

Nhiệm vụ thứ hai không kém phần quan trọng đó là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang hoàn thành các bộ chuẩn, quy chuẩn giáo viên và cán bộ quản lý, giảng viên sư phạm; kết hợp với các trường sư phạm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo lại. Yêu cầu đặt ra là phải có lộ trình, bước đi cho hợp lý; đào tạo, bồi dưỡng và kế hoạch tuyển dụng giáo viên các cấp, tránh thừa thiếu cục bộ...

Ở nhiệm vụ thứ ba nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ. Ngành giáo dục đang đẩy mạnh thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2016 - 2020, tập trung rà soát, thống nhất chương trình và các tài liệu dạy học; đồng thời tập trung vào công tác khảo thí minh bạch, khách quan. Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên; các địa phương chủ động bồi dưỡng giáo viên, tránh tình trạng "chạy" chứng chỉ gây bức xúc trong xã hội.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục là nhiệm vụ thứ tư của ngành giáo dục trong năm học. Theo đó, ngành quyết tâm đẩy mạnh tin học hóa trong quản lý, quyết tâm xây dựng được hệ thống thông tin kết nối giữa Bộ với các Sở GD-ĐT thông suốt, xây dựng được cơ sở dữ liệu chung. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào việc dạy và học như mô hình lớp học thông minh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giảm bớt sổ sách không cần thiết cho các thầy cô giáo.

Bên cạnh đó, ngành giáo dục cũng đặt ra nhiệm vụ thứ năm đó là công tác giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Năm học sẽ là tâm điểm thực hiện Nghị định tự chủ trong nhà trường, Bộ sẽ nghiên cứu xây dựng Nghị định tự chủ của các trường mầm non, phổ thông.

Một nhiệm vụ quan trọng không thể không kể đến đó là nhiệm vụ thư sáu đưa ngành giáo dục hội nhập quốc tế. Với nhiệm vụ này, các Sở GD-ĐT phải tích cực tham mưu cho địa phương xây dựng những Đề án, chương trình thúc đẩy hội nhập quốc tế. Trong đó giải pháp quan trọng là xã hội hóa, để mỗi địa phương đều có yếu tố hội nhập ở các cấp học và ở mức độ khác nhau.

Nhiệm vụ thứ bảy là tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng giáo dục. Cụ thể là rà soát hệ thống trường lớp, có kế hoạch rõ ràng cho các trường thực hiện dạy học 1 buổi, 2 buổi/ngày, kiên quyết không để xảy ra tình trạng nợ chuẩn. Có kế hoạch huy động vốn cụ thể từ nguồn vốn trung ương, vốn địa phương, nguồn xã hội hóa để khắc phục tình trạng trường, lớp học không được kiên cố hóa và giảm quy mô về sĩ số ở khu vực thành thị.

Việc phát triển nguồn nhân lực cũng là một trong chín nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục. Theo đó, ở bậc phổ thông, các địa phương phải rà soát lại giáo dục cơ bản, giáo dục mũi nhọn, củng cố trường THPT chuyên, Bộ sẽ cân nhắc việc xây dựng thông tư hướng dẫn riêng về nhiệm vụ này. Thi học sinh giỏi cần được cải tiến sao cho nhẹ nhàng hơn, tạo động lực để bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và rà soát các tiêu chuẩn tuyển thẳng, cộng điểm.

Phân luồng và định hướng nghề nghiệp là nhiệm vụ thứ chín của ngành giáo dục. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, các tỉnh phải chú trọng bố trí số lượng giáo viên nghiêm túc thực hiện giáo dục hướng nghiệp, chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm; giáo dục hướng nghiệp, trải nghiệm phải làm tốt để học sinh định hướng nghề nghiệp, tạo tâm lý bình đẳng giữa đại học, nghề nghiệp.

Đâu là giải pháp?

Để thực hiện được chín nhóm nhiệm vụ trọng tâm, ngành giáo dục cũng đề ra một số giải pháp cơ bản cần thực hiện trong năm học này.

Theo đó, cần hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính. Cụ thể là tiếp tục rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, không đáp ứng yêu cầu đổi mới, kịp thời kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện thể chế về giáo dục và đào tạo. Tập trung xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học.

Đẩy mạnh cải cách hành chính về giáo dục và đào tạo; đơn giản hóa các thủ tục hành chính, bảo đảm gọn nhẹ.

Ngành giáo dục cũng đưa ra giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý giáo dục. Theo đó, sau khi có chuẩn, quy chuẩn của các vị trí chức danh, đề nghị Học viện Quản lý giáo dục có các chương trình bồi dưỡng kịp thời để đánh giá, phân loại xếp hạng cán bộ quản lý, công tác bổ nhiệm yêu cầu phải đạt chuẩn. Đối với lãnh đạo phải nhìn vào năng lực kỹ năng quản trị trường học chứ không phải bằng cấp.

Bên cạnh đó, cần tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Tích cực, chủ động tham mưu cho UBND, HĐND tỉnh/thành phố các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa theo hướng đẩy mạnh đầu tư vào các bậc học mầm non và giáo dục trung học phổ thông. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư vào những trường chất lượng cao theo hướng hội nhập quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước tham gia vào phát triển sự nghiệp giáo dục.

Ngoài ra, tăng cường công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục. Bộ sẽ tích hợp các thông tư trong lĩnh vực này thành các bộ chuẩn chất lượng và công bố cho các địa phương. Kiểm định chính là thước đo định lượng để thấy được mặt bằng chất lượng các địa phương đang ở đâu. Bộ cũng sẽ sớm ban hành chỉ số chất lượng để hướng tới phân tầng, xếp hạng chất lượng giáo dục của mỗi địa phương.