Trang chủ

Kinh nghiệm của giáo viên

Một số kinh nghiệm Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu học
Ngày đăng 07/11/2017 | 10:29 | Lượt xem: 49

 
1. Hướng dẫn khai thác và xử lý thông tin, tư liệu phục vụ cho bài giảng có ứng dụng Công nghệ thông tin

Từ nhiều năm nay, ở các trường tiểu học cũng đã tương đối phổ biến mô hình giảng dạy sử dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khác như máy tính, máy chiếu (projector),… Bài giảng điện tử và các trang thiết bị này có thể coi là những công cụ dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác từ truyền thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình,…) đến hiện đại (cassette,ti vi,…). 
Hơn nữa, nếu các bài giảng điện tử được đầu tư xây dựng cẩn thận thì sẽ đem lại hiệu quả hơn hẳn. Chẳng hạn khi mô phỏng một trận đánh lịch sử, trên bản đồ giấy chỉ có thể diễn tả được bằng các mũi tên chỉ hướng tấn công, còn trên phần mềm có thể diễn tả được hình ảnh của các đoàn quân di chuyển, nên tạo được sự hấp dẫn và học sinh có thể tiếp thu bài giảng dễ dàng hơn.

Khác với các phần mềm giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải là phần mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên (đối tượng sử dụng là giáo viên, không phải là học sinh). Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến thức vẫn dựa trên giao tiếp thầy-trò, chứ không phải giao tiếp máy-người. Mặt khác, vì giáo viên là người trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên có thể khai thác tối đa được những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên.

Rõ ràng việc sử dụng các bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng kể đối với các tiết dạy của giáo viên. Có thể nói đó là sự kết hợp những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại.

Tuy nhiên, nếu đầu tư xây dựng các bài giảng đóng gói đơn lẻ như sau thì dễ thấy những mặt hạn chế như sau:

– Tính cứng nhắc trong nội dung bài giảng: Các bài giảng điện tử xây dựng theo mô hình trên thường không thể ứng dụng trên quy mô rộng được. Một bài giảng do giáo viên này thiết kế khó có thể áp dụng cho một giáo viên khác vì mỗi người sẽ có một phương pháp giảng dạy khác nhau. Thậm chí với cùng một giáo viên nhưng với những trình độ học sinh khác nhau thì cũng phải có những bài giảng khác nhau.

– Giá thành cao: Để có được những sản phẩm có chất lượng phù hợp với yêu cầu của các giáo viên thì đòi hỏi phải có một đội ngũ kỹ thuật viên có đủ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc, phải đầu tư không ít thời gian cho các việc thiết kế, sản xuất và bảo trì phần mềm. Do vậy, nếu tính theo giá thị trường thì giáo viên khó có thể đáp ứng được, thậm chí đối với một trường học thì giá thành cũng là một vấn đề lớn.

– Sự áp đặt máy móc: Hiện nay, nhiều cơ quan trong ngành Giáo dục hay các Sở Giáo dục địa phương cũng thường đầu tư xây dựng hoặc mua phần mềm hỗ trợ giảng dạy, sau đó đưa về các trường để sử dụng. Tuy nhiên, giáo viên phải tâm đắc với phần mềm nào thì quá trình giảng dạy mới đạt hiệu quả. Mọi sự áp đặt từ cấp trên đưa xuống sẽ trở nên vô nghĩa. Phương pháp giảng dạy tốt nhất là do giáo viên trực tiếp đứng lớp quyết định, không phải một người khác sáng tác ra để áp đặt cho họ. Thậm chí việc áp đặt còn có thể gây ra hiệu quả xấu khi tạo cho người giáo viên tính lười soạn bài, không phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy và cũng không nắm rõ được những ý đồ sư phạm trong một bài giảng.

Chỉ có một cách duy nhất là phải hướng dẫn, tập huấn các giáo viên để có thể tự xây dựng các bài giảng cho riêng mình. Tuy nhiên, việc tập huấn cũng chỉ dừng lại ở mức độ sử dụng thành thạo một vài công cụ thiết kế bài giảng như Powerpoint hay Violet, cách tìm kiếm các tư liệu qua mạng Internet, sử dụng máy quay phim, máy ảnh số, máy quét…

Ở mức độ này, giáo viên mới chỉ có thể tạo được bài giảng ở mức cơ bản, chất lượng trung bình. Chẳng hạn như họ không thể tự vẽ thêm một bức tranh, tự xây dựng một hình ảnh động hoặc lập trình tạo ra một thí nghiệm mô phỏng, hoặc cũng không thể tự chỉnh sửa được các tư liệu hình ảnh sau khi quét ảnh hoặc lấy về từ Internet cho đẹp hơn, biên tập lại các đoạn phim, dịch thuyết minh các tư liệu của nước ngoài thành tiếng Việt, v.v… đặc biệt rất khó có thể tìm kiếm thu thập được những phim ảnh tư liệu quý hiếm. Tất cả những việc này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, họa sĩ, kỹ thuật viên tin học chuyên nghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được.

Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo tình trạng "lạm dụng CNTT" khi các giáo viên tự xây dựng bài giảng. Do hạn chế về định hướng, công nghệ nên giáo viên thường hay xây dựng những bài giảng mang nặng tính trình chiếu, ví dụ như sử dụng Powerpoint "bắn" rất nhiều chữ ra màn hình và khi giảng bài thì gần như đọc lại nội dung đó. Phương pháp này thậm chí sẽ làm cho học sinh giảm hiệu quả tiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc chữ, chưa kể là còn bị cuốn hút vào những hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh kèm theo.

Một trong những lý do của tình trạng trên là do các giáo viên chưa hiểu được rằng: cách sử dụng hiệu quả của ứng dụng phần mềm dạy học là phải khai thác triệt để các nội dung tư liệu, đặc biệt là các tư liệu multimedia (âm thanh, hình ảnh, phim, Flash,…). Một lý do quan trọng nữa là kể cả khi hiểu được như vậy thì cũng khó có thể thực hiện, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào phần mềm thì dễ, chứ nếu tự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên ngoài thì sẽ rất khó khăn.

 2. Những điều kiện cần nhắc khi chọn phương tiện ứng dụng CNTT – trình chiếu Power point trong giảng dạy:

– Nghiên cứu tài liệu và xác định bài dạy nào cần thiết phải trình chiếu Power point.

– Mục đích trình chiếu là gì?

– Kết quả đat được từ việc trình chiếu đó như thế nào?

– Chọn thời điểm phù hợp của tiết học để sử dụng phương tiện trình chiếu nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

– Xác định được thời lượng sử dụng phương tiện đó.

– Cân nhắc những biện pháp, cách thức chuẩn bị cho học sinh tri giác tài liệu học tập cũng như việc nghiên cứu tài liệu sau khi đã quan sát hoặc nghe đày đủ.

– Xây đựng kế hoạch và tiến hành tổ chức tiết học một cách thích hợp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức.

– Xác định tất cả các mục tiêu có trong bài dạy và chọn mục tiêu nào phù hợp với việc trình chiếu.

– Tìm tư liệu có liên quan.

– Xác định những phim ảnh, hình ảnh có liên quan đến bài giảng.

– Tiến hành soạn giảng trên máy.

 3. Phần minh họa việc soạn giảng một giáo án điện tử:

B.1. Những điều kiện cần nhắc khi chon phương tiện ứng dụng CNTT – trình chiếu Power point trong giảng dạy:

Trong tất cả các môn học thì môn Địa lý là một môn học cung cấp cho học sinh về các sự vật hiện tượng và các mối quan hệ địa lý đơn giản. Tuy nhiên, kiến thức về môn Địa lý trong sách giáo khoa có sự chinh lịch rất lớn giữa kênh chữ và kênh hình. Bên cạnh đó, hình ảnh hầu như là ảnh chụp lại hoặc sơ đồ. Vì vậy, để dạy môn Địa lý sinh động, giúp gọc sinh tham gia  vào bài học một cách tích cực hơn cần phải có phương tiện dạy học hỗ trợ như: hiện vật, mô hình, tranh ảnh, trình chiếu,…trong số phương tiện đó thì việc trình chiếu Power point thể hiện được ưu điểm nỗi trội hơn so với các thương tiện khác.

 B.2. Xác định tất cả các mục tiêu có trong ài dạy và chọn mục tiêu nào phù hợp với việc trình chiếu.

Ví dụ: Đối với bài Thành phố Đà Lạt cần đạt được những mục tiêu sau:

  • Chỉ vị trí thành phố Đà Lạt trên bản đồ Việt Nam.
  • Nêu được vị trí địa lí và khí hậu của Đà Lạt: Nằm trên cao nguyên Lâm Viên, có khí hậu quanh năm mát mẻ.
  • Trình bày được những điều kiện thuận lợi để Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch nghỉ mát.
  • Giải thích được vì sao Đà Lạt có nhiều rau, hoa, quả xứ lạnh.
  • Rèn kĩ năng xem lược đồ, bản đồ,…

 B.3. Tìm tư liệu liên quan:

Để tìm tư liệu phục vụ vào bài dạy " thành phố Đà Lạt" tôi trực tiếp xâm nhập vào mạng Intenet để lấy những tranh ảnh, đoạn phim,…. có chất lượng cao liên quan đến bài dạy hoặc có thể đến các cửa hàng băng đĩa ở đây có rât nhiều băng đĩa giới thiệu về thành phố Đà Lạt để chúng ta lựa chọn. Vì thế việc tìm kiếm tư liệu để phục vụ vào bài dạy đối với tôi rất dễ dàng.

B 4. Xác định những phim ảnh, hình ảnh có liên quan đến bài giảng:

Sau khi tìm được tư liệu, tôi xem sơ lược qua vài lần. Sau đó tôi nghiên cứu SGK và liệt kê tất cả những gì cần cung cấp cho học sinh trong từng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức.

Ví dụ: Bài Thành phố Đà Lạt

Hoạt động 1: Giáo viên cung cấp cho học sinh về vẻ đẹp của rừng thông phủ kín sườn đồi, sườn núi và thông chạy dọc theo các con đường trong thành phố. Ngoài ra giáo viên cung cấp cho học sinh về những thác nước đẹp, nổi tiếng như: Thác Cam-li; Thác Pơ-ren;…

Hoạt động 2: Giáo viên giớ thiệu về những công trình phục vụ việc nghỉ mát và du lịch có ở Đà Lạt: Khách sạn, biệt thự, bơi thuyền, cưỡi ngựa,…

Ngoài ra giáo viên cho học sinh quan sát về lược đồ khu trung tâm thành phố Đà Lạt để từ đó học sinh biết một số điểm du lịch nổi tiếng qua lược đồ.

Hoạt động 3: Hoạt động này tôi sẽ cung cấp cho học sinh những hình ảnh về các loại rau xanh, hao, quả, đặc trưng có ở thành phố Đà Lạt.

+ Rau, quả: Bắp cải, súp lơ, cà chua, dâu tây, đào,…

+ Hoa: Hồng, lan, cúc, lay ơn, mimosa, cẩm tú cầu,…

Sau đó, tôi xem lại và tiến hành cắt phim. Khi cắt những đoạn phim có liên quan đến bài xong, tôi ráp các đoạn phim lại với nhau và sắp xếp theo trình tự của từng hoạt động. Việc cắt ghép phim mất khá nhiều thời gian và công phu trong quá trình làm giáo án điện tử. Khi đã hoàn tất những đoạn phim, tôi bắt đầu thực hiện thiết kế trình tự một giáo án điện tử.

 B.5. Tiến hành soạn giảng trên máy:

Tôi xác định kĩ từng Slide mình thực hiện trình chiếu và thể hiện nhũng gì. Và cuối cùng chọn hiệu ứng cho  từng Slide, từng kênh chữ sao cho phù hợp với  nội dung và không làm phân tán sự chú ý của học sinh.

Thời gian thực hiện: Để hoàn thành sản phẩm này tôi thực hiện trong khoảng thời gian từ 2 ngày. Tuy có lâu nhưng vận dụng vào giảng dạy tôi nhận thấy được hiệu quả nên dù mất thời gian bao lâu đó cũng không phải là vấn đề.

                                                                  

Người viết: Nguyễn Minh Hải